Câu hỏi mở đầuSau khi sinh vật chết, lượng đồng vị phóng xạ carbon-14 trong cơ thể cứ sau 5730 năm...

Câu hỏi:

Câu hỏi mở đầu

Sau khi sinh vật chết, lượng đồng vị phóng xạ carbon-14 trong cơ thể cứ sau 5730 năm thì giảm đi một nửa do quá trình phân rã. Đây là cơ sở của phương pháp xác định tuổi của hoá thạch bằng carbon phóng xạ carbon-14 trong khảo cổ học.

Việc tính toán tuổi của hoá thạch được thực hiện như nào

Câu trả lời:
Người trả lời: GV. Đỗ Hồng Hưng
Để tính tuổi của hoá thạch bằng phương pháp xác định carbon-14, ta cần biết lượng đồng vị carbon-14 ban đầu trong mẫu hoá thạch và lượng carbon-14 hiện tại.

Phương trình quy đổi đồng vị phóng xạ carbon-14 theo thời gian là:
\[ N_t = N_0 e^{-0.000121t} \]
trong đó:
- \( N_t \) là lượng đồng vị phóng xạ carbon-14 sau thời gian \( t \)
- \( N_0 \) là lượng đồng vị phóng xạ carbon-14 ban đầu
- \( t \) là thời gian tính bằng năm
- 0.000121 là hằng số phân rã của carbon-14

Với carbon-14, sau mỗi 5730 năm, lượng carbon-14 giảm đi một nửa. Do đó, ta có thể sử dụng phương trình \( N_t = N_0 \times \left( \frac{1}{2} \right)^{\frac{t}{5730}} \)

Để tính tuổi của hoá thạch, ta có thể sử dụng công thức:
\[ t = 5730 \times \log_{\frac{1}{2}} \left( \frac{N_t}{N_0} \right) \]
trong đó \( N_t \) là lượng carbon-14 trong mẫu hoá thạch hiện tại, \( N_0 \) là lượng carbon-14 ban đầu.

Như vậy, để xác định tuổi của hoá thạch bằng carbon-14, ta cần biết lượng carbon-14 ban đầu và hiện tại, sau đó áp dụng công thức trên để tính toán tuổi của hoá thạch.
Câu hỏi liên quan:
Bình luận (0)
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
0.25581 sec| 2181.297 kb